CÁCH XEM MÀU MẠNG GÀ ĐÁ – SẮC LÔNG – MÀU MẮT- MÀU CHÂN

0

Xem màu mạng gà đá qua màu lông gà, màu chân lông gà, màu mắt lông gà và các màu sắc tương ứng với ngũ hành sẽ giúp các chiến kê biết màu mạng nào sẽ khắc chế nhau hay đá ăn nhau trong trận đá gà.  Việc biết cách xem màu mạng gà đá sẽ giúp hỗ trợ các sư kê khi tham gia cá độ đá gà. Và sẽ có ưu thế lựa chọn chiến kê dũng mãnh để nghênh chiến với các đối thủ khác.

Hiện nay có khá nhiều tranh cãi và sự hiểu nhầm về việc so sánh khá khập khiếng trong việc chọn màu mạng gà đá giữa màu lông ở trên thân mình gà và màu vảy ở quản gà khi xem tướng gà. Câu hỏi thường đặt ra với dân chơi chọi gà thường là “cách xem màu mạng gà đá hôm nay“. Những người mới chơi đá gà thường khá bối rối về các tên gọi của màu sắc lông giữa các chú gà cựa sặt, ở những địa phương khác nhau lại có tên gọi khác nhau. Do vậy nhiều khi trong một số tài liệu trong một số câu ca dao ta sẽ bị sai do hiểu nhầm hay không dựa trên cơ sở của Ngũ Hành.

Thí dụ:

“Gà ô chân trắng mẹ mắng cũng mua.
Gà trắng chân chì mua chi thứ ấy”

Câu ca dao trên hoàn toàn đúng vì dựa vào căn bản của Ngũ Hành.

Còn trong thí dụ dưới:
“Xám chân vàng cả làng mất váy”

I. Luận về sắc mạng chia theo ngũ hành:

Xám – Mộc, Ô – Thủy, Nhạn – Kim, Tía – Hỏa, Ó Vàng – Thổ, Ngũ Sắc không theo mạng nào cả.
Sắc mạng ăn thua nhau: Tía > Nhạn > Xám > Ó Vàng > Ô (lưu ý, dấu > để chỉ ăn, thắng)

cách xem màu mạng gà đá
Xem tướng gà- Đoán mạng gà chọi qua màu lông và màu chân

Xuân ( tháng 1 – 2 – 3)
Xám: Vượng,
Ó vàng: Tử
Tía: Tướng
Nhạn: Tù
Ô: Hưu

Hạ ( tháng 4 – 5 – 6)
Xám: Hưu,
Ó vàng: Tướng
Tía: Vượng
Nhạn: Tử
Ô: Tù

Thu ( tháng 7 – 8 – 9)
Xám: Tử
Ó vàng: Hưu
Tía: Tù
Nhạn: Vượng
Ô: Tướng

Đông ( tháng 10 –112 – 12)
Xám: Tướng,
Ó vàng: Tù
Tía: Tử
Nhạn: Hưu
Ô: Vượng

*Tương sinh: nghĩa là hỗ trợ, giúp đỡ, kim–>thủy, thủy–>mộc, mộc–>hỏa, hỏa–>thổ, thổ–>kim, đi giáp một vòng, các hành sinh lẫn nhau.
*Tương khắc: là cản trở, khắc chế, kim> mộc, mộc>thổ, thổ>thủy, thủy>hỏa, hỏa>kim, các hành khắc lẫn nhau, không hành nào là vô địch.
*Tương hòa: là bình hòa, không hỗ trợ hoặc cản trở, kim~kim, mộc~mộc, thủy~thủy, hỏa~hỏa, thổ~thổ.
*Tương thừa: hàm ý “thừa thế lấn áp”, chẳng hạn “mộc khắc thổ”, nếu mộc quá mạnh hoặc thổ quá suy thì gọi là “mộc thừa thổ”.
*Tương vũ: hàm ý “khinh nhờn”, chẳng hạn “thủy khắc hỏa”, nếu hỏa quá mạnh hoặc thủy quá suy thì gọi là “hỏa vũ thủy”.

Sinh khắc của màu lông

*Nhạn: ăn ó vàng, xám – thua ô, điều.
*Xám: ăn ô, ó vàng – thua điều, nhạn
*Ô: ăn nhạn, điều – thua xám, ó vàng
*Điều: ăn xám, nhạn – thua ó vàng, ô
*Ó: vàng ăn điều, ô – thua nhạn, xám

*Luận “thắng-thua” thì quan hệ tương-khắc rất dễ hiểu, ví như “ta khắc địch” = ta thắng, địch thua, “địch khắc ta” = địch thắng, ta thua (khắc xuất ăn khắc nhập). Nhưng khi bàn về quan hệ tương-sinh thì biết ai thắng, ai thua? Về bản chất thì quan hệ tương-sinh là quan hệ hỗ trợ, giúp đỡ chứ không phải là quan hệ đối kháng. Tuy nhiên, khi áp dụng vào đá gà thì phải có ăn thua. Căn cứ theo ngũ hành luận thì sinh xuất bị thiệt, mất công lực, sinh nhập được lợi, tăng công lực –> sinh nhập ăn sinh xuất. Ví như “ta sinh địch” = ta thua, địch thắng, “địch sinh ta” = địch thua, ta thắng.

*Kê kinh không nói rõ thắng-thua trong quan hệ tương-sinh như thế nào nhưng ở phần nhật thần sinh-khắc, “sinh nhập” luôn thu được lợi thế trong khi “sinh xuất” bị liệt vào vận hạn. Chẳng hạn, ngày mộc thì gà tía mạnh nhất bởi mộc sinh hỏa, ngày thủy thì gà nhạn (kim) bị rơi vào ngày kỵ. Như vậy, chúng ta có thể mạnh dạn suy luận rằng “sinh nhập ăn sinh xuất”, điều này cũng thuận với ngũ hành luận. Phải nêu rõ như vậy bởi có tồn tại quan điểm trái ngược “sinh xuất ăn sinh nhập”, ví như ta sinh địch = ta thắng, địch thua, địch sinh ta = địch thắng, ta thua.

Tứ thời sinh khắc

*Tứ thời sinh khắc là quan hệ vượng-suy của các hành theo mùa.

*Xuân, hạ, thu, đông: bốn mùa tuần hoàn, hoán chuyển. Cuối mỗi mùa đều có một giai đoạn nhập thổ (tứ quý). Hành đại diện của các mùa: xuân-mộc, hạ-hỏa, thu-kim, đông-thủy, tứ quý-thổ.

*Quan hệ của màu gà theo mùa. Chẳng hạn, gà xám cực thịnh (vượng) vào mùa đông, mạnh (tướng) và mùa đông, ổn định (hưu) vào mùa hạ, sa sút (tù) vào tứ quý và bại (tử) vào mua thu.   *Quan hệ của mùa theo màu gà. Chẳng hạn, vào mùa đông, gà ô cực thịnh (vượng), gà xám mạnh (tướng), gà nhạn ổn định (hưu), gà ó vàng sa sút (tù) và gà điều bại (tử).

II. Phân định màu lông theo Phong thủy Ngũ hành.

Muốn phân định màu lông 1 cách chính xác chúng ta phải nhìn vào lông mã và lông bờm cổ của gà để xác định chứ không dựa trên lông ở thân hay đuôi gà. Đó chỉ là màu lông phụ để gọi cho dễ nhận diện con gà mà thôi. Thí dụ con gà có lông ức, lông đùi, lông cánh, lông đuôi màu đen nhưng lông mã và lông bờm cổ màu đỏ thì ta gọi là con gà Ô Tía hay Tía chứ không gọi nó là gà Ô được. Tuy chữ Ô đọc trước chữ Tía nhưng Ô không phải là màu lông chính mà là lông Tía là màu chủ đạo để định màu trong Phong Thủy Ngũ hành.

1. Gà Ô – mạng Thuỷ: đây là con gà có lông mã và bờm cổ màu đen, bất luận là mã kim hay mã tre hay mã lại. Con gà Ô hợp cách theo thứ tự các màu vảy sau đây: màu trắng, kế đến là đen và sau cùng là màu xanh hay màu chì (màu chì còn được gọi là màu da đá do màu đen pha với trắng hay xanh mà ra).

2. Gà Xám – mạng Mộc: đây là con gà có lông mã và bờm cổ có màu xám khô, xám bẩn hay xám mã lại. Con gà Xám có màu lông này sẽ hợp các màu chân sau đây: màu chân đen, màu chân xanh, chì và sau cùng là màu chân vàng mây có pha ráng đỏ.

3. Gà Điều – mạng Hoả : đây là con gà có màu chiếm đại đa số trong các màu lông của gà chọi. Gà điều có lông mã và bờm cổ màu đỏ rực hay màu đỏ mật. Có nơi như ngoài Bắc hay miền Trung thì gọi đây là gà Tía. Còn trong miền Nam thì thường gọi là lông điều, riêng dân chơi gà cựa còn tuỳ theo màu lông cánh, đuôi, ức mà gọi con gà những cái tên nghe rất lạ là Khét, Que,… như đã nói đến ở trên những màu lông này chỉ là phụ và giúp nhận diện màu lông con gà dễ dàng hơn mà thôi. Nếu những con gà khét, que này có mã và bờm cổ màu đỏ thì vẫn là gà mang mạng Hoả. Những màu chân sau đây được xem là hợp cách: chân xanh, chì, chân vàng mây có ráng đỏ và sau cùng là chân vàng.

4. Gà Vàng – mạng Thổ : con gà có lông vàng ít được chuộng vì hay bị nhầm lẫn cho là màu lông gà Tam hoàng, gà tàu là loại gà thịt. Tuy nhiên có những loại màu lông khác cũng được xếp hạng là gà mạng Thổ đó là gà cú, gà bịp là tiếng ngoài Bắc gọi gà lông ó mã lại, gà có màu lông chuối trắng hay chuối vàng. Gà mạng Thổ thì hợp với các màu chân sau: chân vàng có ráng mây đỏ, chân vàng và chân trắng.

5. Gà Nhạn – mạng Kim : gà nhạn là gà có màu mã kim và lông bờm cổ màu trắng. Một điều lý thú là rất ít khi thấy gà nhạn lông mã mái. những con gà có màu lông bướm, khét sữa, vv… nhưng nếu lông mã và bờm cổ màu vàng như gà chuối đều được xem là gà có mạng Thổ. Gà Nhạn hợp cách với màu chân như sau: chân vàng, chân trắng và chân đen.

Để lại câu hỏi

Your email address will not be published.